Vai trò Chư Ni Trong Văn Hóa Khắc in Mộc Bản Chùa Vĩnh Nghiêm năm 1881

VAI TRÒ CỦA CHƯ NI VÀ NỮ PHẬT TỬ TRONG VIỆC TIẾP NỐI VĂN HÓA KHẮC IN MỘC BẢN TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM (1881)
Hương Ngự
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, hệ thống mộc bản tại chốn tổ Vĩnh Nghiêm được coi là một trong những hiện thân tiêu biểu của kho tàng tri thức, tâm huyết và sự hành trì bền bỉ qua bao thế hệ. Khi tiếp cận công tác khắc in kinh điển thời phong kiến, người ta thường tập trung vào vai trò chủ đạo của các bậc đại sư, các vị cao tăng thuộc Tăng bộ. Tuy nhiên, nguồn tư liệu lịch sử năm 1881 đã mang đến một góc nhìn mới đầy tính nhân văn: Chư Ni và nữ Phật tử đương thời chính là một lực lượng hộ pháp, một mắt xích trực tiếp tham gia vào toàn bộ quy trình khắc in và truyền bá Luật tạng.
Bài viết này dựa trên nền tảng nguồn tư liệu do Nhà nghiên cứu Lê Quốc Việt sưu tầm và dịch chú, nhằm làm rõ hơn nữa vai trò của chư Ni trong đời sống văn hóa khắc in, cũng như công tác bảo tồn và lưu thông Pháp bảo.
TƯ LIỆU GỐC (NĂM 1881 – TÂN TỴ, TỰ ĐỨC THỨ 34):
- Tháng Xuân: Chủ pháp Vĩnh Nghiêm Tâm Viên đứng ra chứng minh việc khắc in cuốn Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh tại chùa Linh Ứng (thôn Yên Lễ, xã Gia Cấp, tổng Cổ Quán, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên). (Theo lời Lược dẫn cuối kinh).
- Tháng 2: Chủ pháp Vĩnh Nghiêm Tâm Viên cùng Tăng ni hai bộ chùa Vĩnh Nghiêm đứng ra hiệu đính, viết chữ và hưng công phát khắc các cuốn: Tỷ kheo ni giới kinh, Thức xoa ni giới tướng, Sa di ni giới kinh cùng Uy nghi thất thập sự. (Theo lời hậu bạt cuốn Sa di ni giới kinh).
- Tháng 10: Chủ pháp Vĩnh Nghiêm Tâm Viên cùng Tăng ni hai bộ chùa Vĩnh Nghiêm hoàn tất việc hưng công phát khắc các cuốn: Tỷ kheo ni giới kinh, Thức xoa ni giới tướng, Sa di ni giới kinh cùng Uy nghi thất thập sự.
Lần khắc in này được sự phát tâm cúng dường Pháp bởi: Chủ pháp Vĩnh Nghiêm Tâm Viên, Thanh Hội (chùa Tam Bảo), Thanh Nhượng (chùa An Lễ). Tăng ni thuộc hai chùa Tam Bảo và An Lễ gồm: Thanh Lân, Thanh Tịch, Thanh Chỉnh, Thanh Quang, Thanh Xướng, Thanh Dậu, Thanh Ngoạn, Thanh Uy, Thanh Độ, Thanh Sơ, Thanh Khoa, Thanh Nghi, Thanh Nghiêm, Thanh Tuân; An Lạc (chùa Đa Bảo), Thanh Sự (chùa Kim Sơn), Tâm Hải (chùa Đồng Tề).
Địa bàn Hà Nội gồm: Ni sư Diệu Trí (chùa Đông Kiều), Diệu Thanh cùng Sa di Diệu Thịnh (chùa Vạn Phúc), Diệu Đích (chùa Thắng Lâm), Diệu Cát (chùa Phổ Am), Diệu Uyên (chùa Kiên Sơ).

Ni sư tỉnh Hải Dương gồm: Diệu Như, Diệu Trung, Diệu Thùy, Diệu Tín, Diệu An, Diệu Khiêm, Diệu Hiền, Diệu Vị; tại chùa Bào Am và Cổ Am gồm: Diệu Huệ, Diệu Lượng, Diệu Mãn, Diệu Tư, Diệu Niệm, Diệu Tấn, Diệu Liên, Diệu Tri, Thuần, Diệu Tựu, Diệu Trí, Diệu Oánh, Diệu Khang, Diệu Thịnh; tại chùa Tiên Am gồm: Diệu Định, Diệu Dũng, Diệu Y, Diệu Tĩnh, Diệu Hiểu, Diệu Lượng, Diệu Xuân, Diệu Kỷ, Diệu Tân, Diệu Niên, Diệu Minh, Diệu Khẩn, Diệu Y.
Tỉnh Nam Định gồm: Diệu Kiên, Diệu Hải, Diệu Đương, Diệu Tập, Diệu Xuyến, Diệu Nhiên, Diệu Vinh, Diệu Nghĩa, Diệu Quy, Diệu Y. Tỉnh Sơn Tây gồm: Diệu Điển (chùa Cựu Linh).
Tượng chủ Nguyễn Văn Minh khắc ván. Chùa Vĩnh Nghiêm tàng bản, chùa Thiên Định tàng thư. (Theo lời hậu bạt cuốn Sa di ni giới kinh và Sa môn Tâm Viên, Thức xoa ma na, Sa di ni luật nghi trùng hiệu duyên khởi, Thức Xoa ma giới tướng).
- LỰC LƯỢNG ĐÔNG ĐẢO, KẾT NỐI MẠNG LƯỚI NI GIỚI LIÊN TỈNH
Nhìn vào danh sách những bậc hưng công tham gia phát khắc và hiệu đính các bộ luật kinh dành cho Ni giới vào mùa thu năm 1881, có thể nhận thấy sự xuất hiện dày đặc của các vị Ni sư, Thức xoa ma na, Sa Di ni và nữ cư sĩ đến từ nhiều vùng miền khác nhau. Thực tế đó là minh chứng cho biết đây là một hoạt động Phật sự có tính chất liên tỉnh mang tầm vóc lớn, thiết lập nên sợi dây liên kết chặt chẽ giữa chốn tổ Vĩnh Nghiêm với các trung tâm Phật giáo tại Bắc Kỳ bấy giờ:
- Tại Hà Nội: Có sự phát tâm của Ni sư Diệu Trí (chùa Đông Kiều), Diệu Thanh cùng với Sa di Diệu Thịnh (chùa Vạn Phúc), Diệu Đích (chùa Thắng Lâm), Diệu Cát (chùa Phổ Am) và Diệu Uyên (chùa Kiên Sơ).
- Tại tỉnh Hải Dương: Bao gồm các vị: Diệu Như, Diệu Trung, Diệu Thùy, Diệu Tín, Diệu An, Diệu Khiêm, Diệu Hiền, Diệu Vị. Đặc biệt, tại hai ngôi chùa cổ kính là chùa Bào Am và chùa Cổ Am, danh sách các vị chư Ni kéo dài với những cái tên: Diệu Huệ, Diệu Lượng, Diệu Mãn, Diệu Tư, Diệu Niệm, Diệu Tấn, Diệu Liên, Diệu Tri, Thuần, Diệu Tựu, Diệu Trí, Diệu Oánh, Diệu Khang, Diệu Thịnh. Tại chùa Tiên Am, một nhóm các vị Ni khác cũng đồng lòng hướng về Vĩnh Nghiêm bao gồm: Diệu Định, Diệu Dũng, Diệu Y, Diệu Tĩnh, Diệu Hiểu, Diệu Lượng, Diệu Xuân, Diệu Kỷ, Diệu Tân, Diệu Niên, Diệu Minh, Diệu Khẩn, Diệu Y.
- Tại tỉnh Nam Định: Ghi nhận sự tham gia của các chư Ni: Diệu Kiên, Diệu Hải, Diệu Đương, Diệu Tập, Diệu Xuyến, Diệu Nhiên, Diệu Vinh, Diệu Nghĩa, Diệu Quy, Diệu Y.
- Tại tỉnh Sơn Tây: Đại diện tiêu biểu là Diệu Điển ở chùa Cựu Linh.
Việc xuất hiện hàng chục pháp danh bắt đầu bằng chữ “Diệu” – danh xưng đặc trưng cho nữ giới trong Phật giáo, biểu thị cho sự mầu nhiệm và thanh tịnh – là minh chứng đanh thép rằng: Nữ giới không hề đứng bên lề của dòng chảy lịch sử. Họ đã thiết lập thành một mạng lưới liên kết tâm linh và văn hóa bền chặt, dùng ý chí và năng lực của giới mình để thúc đẩy mạnh mẽ phong trào khắc in mộc bản tại trung tâm Vĩnh Nghiêm.
- VAI TRÒ CHỦ THỂ TRỰC TIẾP TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ TRUYỀN BÁ LUẬT TẠNG NI GIỚI
Một điểm đặc biệt đáng chú ý trong đoạn tư liệu này là danh mục các cuốn kinh sách được lựa chọn để khắc in vào năm 1881, bao gồm: Tỷ kheo ni giới kinh, Thức xoa ni giới tướng, Sa di ni giới kinh cùng Uy nghi thất thập sự.
Đây là hệ thống Luật tạng dành riêng cho hành giả nữ (Ni giới) trên con đường tiến tu từ bậc Ưu Bà Di, Sa di ni, Thức xoa ma na cho đến Tỷ kheo ni. Chính vì tính chất đặc thù đó, vai trò của chư Ni ở đây không dừng lại ở việc “đóng góp thụ động” mà họ chính là những chủ thể trực tiếp kiến tạo nên nhu cầu văn hóa này.
Việc Ni giới trực tiếp tham gia vào quy trình khắc in mộc bản cho thấy trình độ học vấn, tri thức Phật pháp lẫn nghệ thuật thư pháp của chư Ni thời kỳ này đã đạt đến một trình độ rất cao. Họ nhận thức sâu sắc rằng, muốn Ni đoàn trang nghiêm, muốn chánh pháp được lưu truyền toàn vẹn cho hậu thế, thì bắt buộc phải có hệ thống kinh sách chuẩn mực. Trong bối cảnh đó, bản khắc gỗ tại chốn tổ Vĩnh Nghiêm chính là phương tiện tối ưu nhất để nhân bản và lưu giữ nguồn tri thức ấy.
- VAI TRÒ “HỘ PHÁP” TRÊN PHƯƠNG DIỆN KINH TẾ VÀ TINH THẦN
Để một dự án khắc in mộc bản quy mô lớn thành công, ngoài bàn tay tài hoa của người thợ khắc như Tượng chủ Nguyễn Văn Minh, sự lãnh đạo tinh thần của bậc cao tăng như Sa môn Tâm Viên, thì nguồn lực tài chính và vật chất đóng vai trò sống còn.
Văn bản ghi rõ: “Lần khắc in này được sự phát tâm cúng dường pháp bởi…”. Bên cạnh các vị Tăng, sự đóng góp cúng dường (pháp cúng) từ các đạo tràng và các ngôi chùa Ni như Tam Bảo, An Lễ, Đa Bảo, Kim Sơn, Đồng Tề đã tạo nên một cơ sở kinh tế vững chắc cho xưởng in mộc bản Vĩnh Nghiêm. Những người phụ nữ mang pháp danh chữ “Diệu”, dù ở chốn tu hành thanh tịnh hay là những nữ cư sĩ tại gia, đã hiến cúng tài vật, phục vụ việc mua gỗ Thị làm ván khắc, mua giấy Dó, mực Tàu. Hành động này thể hiện tinh thần dấn thân cao cả, biến đức tin tôn giáo thành hành động bảo tồn di sản Văn hóa Phật giáo cụ thể.
- Ý NGHĨA ĐỐI VỚI DÒNG CHẢY VĂN HÓA MỘC BẢN VĨNH NGHIÊM
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm ngày nay đã được UNESCO công nhận là Di sản Ký ức Thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Để có được di sản đó, chúng ta không thể quên những nét đục, những giọt mồ hôi của những người thợ khắc ván và sự đồng lòng của chư Ni những năm 1881. Sự tiếp nối văn hóa ở đây được thể hiện rõ nét ở hai khía cạnh:
- Về vật thể: Ni giới đã trực tiếp làm phong phú thêm kho tàng mộc bản lưu giữ tại chùa Vĩnh Nghiêm (Vĩnh Nghiêm tàng bản) và thư viện tại chùa Thiên Định (Thiên Định tàng thư). Những ván khắc mang dấu ấn của năm Tân Tỵ chính là minh chứng cho hoạt động của chư Ni thế kỷ XIX đến với thế giới hiện đại.
- Về phi vật thể: Ni giới đã khẳng định vị thế của giới mình trong sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh. Sự đồng lòng của các vị như Diệu Trí, Diệu Như, Diệu Điển, Diệu Kiên… đã thổi một luồng sinh khí mạnh mẽ vào công cuộc chấn hưng giáo dục Phật giáo đương thời, khẳng định vị thế của người phụ nữ trong xã hội phong kiến – một bối cảnh xã hội vốn chịu nhiều định kiến “trọng nam khinh nữ”.
KẾT LUẬN
Đoạn tư liệu lịch sử được gìn giữ chứa đựng danh tính của hàng chục vị chư Ni mang chữ “Diệu” phản ánh vai trò, trí tuệ và đóng góp của nữ giới đối với văn hóa khắc in mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. Có thể nói, sự dấn thân của họ vào sự nghiệp khắc in mộc bản giai đoạn năm 1881 không thuần túy là một công tác hành chính, mà chính là sự biểu hiện sinh động của một triết lý sâu xa. Đúng như bài viết “Chữ “Diệu”: Những điều huyền bí và khả năng chuyển biến của cuộc sống” trên tạp chí Nghiên cứu Phật học đã nhận định:
“Trong triết lý Phật giáo, có những điều vượt ngoài tầm hiểu biết của lý trí thông thường, nhưng lại hiện hữu một cách sâu sắc và diệu kỳ trong đời sống nội tâm của mỗi người. Chữ “Diệu” – với nghĩa là kỳ diệu, nhiệm mầu, huyền diệu – không chỉ là một tên gọi đẹp, mà còn gợi mở chiều sâu tâm linh, biểu tượng cho khả năng chuyển hóa của tâm thức, cho sự tỉnh thức và giác ngộ trong từng khoảnh khắc sống.”

Bằng việc mang tâm thức “diệu kỳ” ấy vào từng nét chữ, từng đồng tiền cúng dường Pháp bảo, chư Ni thời kỳ này đã tham gia chuyển hóa những thớ gỗ Thị vật chất thành những trang kinh báu lưu truyền kí ức nhân loại cho hậu thế. Chính sự dấn thân, đồng lòng hiệp lực của các bậc đi trước như Ni sư Diệu Trí, Ni chúng chùa Bào Am, Cổ Am, Tiên Am… dưới sự phát hiện và dịch chú tư liệu kính cẩn của Nhà nghiên cứu Lê Quốc Việt, đã giữ cho ngọn lửa văn hóa mộc bản lưu truyền ngàn năm, trở thành một bộ phận không thể tách rời của hồn cốt văn hóa dân tộc.



