Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm trong đối ngoại nhân dân của Phật giáo Việt Nam: Giá trị di sản, thực tiễn phát huy và định hướng hợp tác quốc tế

26/10/2026 76 phút đọc 13 lượt xem
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm trong đối ngoại nhân dân của Phật giáo Việt Nam: Giá trị di sản, thực tiễn phát huy và định hướng hợp tác quốc tế
Chia sẻ: Facebook Zalo

TÓM TẮT

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là di sản tư liệu có giá trị đặc biệt đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam, truyền thống Thiền phái Trúc Lâm và nghiên cứu văn bản Hán Nôm. Được ghi danh vào Danh mục Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương năm 2012, di sản này mở ra tiềm năng kết nối bảo tồn văn hóa với hoạt động đối ngoại nhân dân của Phật giáo Việt Nam. Bài viết phân tích giá trị lịch sử, tư tưởng và tư liệu của Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm; xem xét thực tiễn bảo tồn, lưu giữ và giới thiệu di sản; đồng thời đánh giá khả năng phát huy di sản trong giao lưu học thuật và hợp tác quốc tế. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, đối chiếu thông tin từ các cơ quan quản lý di sản, tổ chức chuyên môn và công trình nghiên cứu liên quan. Kết quả cho thấy việc ghi danh quốc tế, các hoạt động bảo tồn và giới thiệu trong nước tạo nền tảng thuận lợi để phát triển đối thoại văn hóa và kết nối nghiên cứu xuyên quốc gia. Tuy nhiên, cần phân biệt giá trị quốc tế của di sản với những thành tựu đối ngoại đã được kiểm chứng, tránh đồng nhất tiềm năng với kết quả thực tế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất chuẩn hóa hồ sơ di sản, xây dựng tài liệu giới thiệu song ngữ, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu và triển khai số hóa có kiểm soát, qua đó góp phần phát huy bền vững giá trị Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm trong đối ngoại nhân dân của Phật giáo Việt Nam.

Từ khóa: Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm; đối ngoại nhân dân; Phật giáo Việt Nam; ngoại giao di sản; hợp tác quốc tế.

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm trong đối ngoại nhân dân
Chư tôn đức và đại biểu tham dự Hội thảo khoa học Phật giáo Việt Nam tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân (24/10/2026).

1. MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, văn hóa và di sản văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc lưu giữ ký ức lịch sử, bảo tồn bản sắc và trao truyền tri thức giữa các thế hệ. Di sản văn hóa trở thành cầu nối thúc đẩy giao lưu, đối thoại và tăng cường sự hiểu biết giữa các cộng đồng. Thông qua những giá trị văn hóa được hình thành và tích lũy trong lịch sử, các chủ thể văn hóa có điều kiện giới thiệu bản sắc của mình, tìm kiếm những điểm tương đồng với các nền văn hóa khác và mở rộng các hình thức hợp tác trên cơ sở tôn trọng sự đa dạng. Trong nghiên cứu quốc tế, ngoại giao di sản (heritage diplomacy) được sử dụng để xem xét vai trò của di sản trong các mối quan hệ xuyên biên giới, từ hợp tác bảo tồn, trao đổi tri thức đến đối thoại văn hóa. Tuy nhiên, đây là một hướng tiếp cận có nhiều cách diễn giải; vì vậy, việc vận dụng khái niệm này cần gắn với chủ thể, hoạt động và kết quả cụ thể, thay vì mặc nhiên coi mọi hoạt động bảo tồn hay quảng bá di sản đều là thành tựu ngoại giao.

Đối với Việt Nam, Phật giáo có lịch sử gắn bó lâu dài với đời sống văn hóa, tinh thần và quá trình phát triển của dân tộc. Bên cạnh chức năng tôn giáo, Phật giáo còn góp phần hình thành các giá trị tư tưởng, đạo đức, nghệ thuật, kiến trúc, văn học và hệ thống tri thức được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Những giá trị ấy được thể hiện trong hệ thống chùa tháp, di tích, tượng thờ, nghi lễ, kinh sách và các loại hình di sản vật thể, phi vật thể, di sản tư liệu. Trong điều kiện giao lưu quốc tế hiện nay, việc bảo tồn và phát huy những di sản này có thể tạo thêm không gian để Phật giáo Việt Nam tham gia đối thoại văn hóa, trao đổi học thuật và kết nối cộng đồng Phật giáo với các đối tác quốc tế. Xét từ góc độ đối ngoại nhân dân, điều quan trọng không chỉ là giới thiệu hình ảnh hay giá trị văn hóa của Phật giáo Việt Nam, mà còn là xây dựng những hoạt động tương tác thực chất, có nội dung rõ ràng, tôn trọng khác biệt văn hóa và tạo ra kết quả hợp tác có thể nhận diện.

Trong hệ thống di sản Phật giáo Việt Nam, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là một trường hợp tiêu biểu để nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị di sản tư liệu và khả năng phát triển giao lưu văn hóa. Gắn với chùa Vĩnh Nghiêm – một trung tâm quan trọng của Thiền phái Trúc Lâm – bộ mộc bản lưu giữ nhiều tư liệu Phật giáo được khắc in bằng chữ Hán, chữ Nôm và một số văn tự khác. Những tư liệu này có giá trị đối với nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam, tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm, văn bản học Hán Nôm, lịch sử in ấn và quá trình truyền bá tri thức Phật giáo. Đặc biệt, việc Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được ghi danh vào Danh mục Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương năm 2012 đã xác nhận ý nghĩa tư liệu của bộ sưu tập trong khuôn khổ Chương trình Ký ức Thế giới khu vực[1]. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn, giới thiệu và tìm kiếm cơ hội kết nối học thuật quốc tế. Cần lưu ý rằng, sự ghi danh này thuộc chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương, không đồng nghĩa với việc mộc bản được ghi vào Danh sách Di sản Thế giới.

Bên cạnh ý nghĩa được xác nhận qua việc ghi danh, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm còn đặt ra vấn đề về cách chuyển hóa giá trị di sản thành nguồn lực cho giao lưu và hợp tác quốc tế. Giá trị của một bộ sưu tập tư liệu nằm ở khả năng giúp các thế hệ hôm nay tiếp cận những lớp tri thức lịch sử, tư tưởng và ngôn ngữ được lưu giữ trong đó. Với Mộc bản Vĩnh Nghiêm, việc giới thiệu nội dung kinh sách, nghiên cứu văn bản Hán Nôm, trao đổi kinh nghiệm bảo quản và phát triển phương thức tiếp cận tư liệu phù hợp với môi trường số đều có thể mở ra cơ hội kết nối giữa các cơ sở Phật giáo, nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý di sản và tổ chức học thuật trong nước, quốc tế. Tuy nhiên, những khả năng này chỉ có thể trở thành kết quả hợp tác khi được cụ thể hóa bằng chương trình, đối tác, nguồn lực và sản phẩm xác định.

Thực tiễn phát huy di sản vì vậy cần được xem xét trên cơ sở phân biệt ba phương diện có quan hệ mật thiết nhưng không đồng nhất. Thứ nhất là giá trị nội tại của di sản, bao gồm ý nghĩa lịch sử, tôn giáo, tư tưởng, ngôn ngữ và kỹ thuật khắc in. Thứ hai là thực tiễn bảo tồn, lưu giữ và giới thiệu di sản, thể hiện qua các hoạt động đã diễn ra và có nguồn tư liệu xác nhận. Thứ ba là khả năng phát huy trong đối ngoại nhân dân và hợp tác quốc tế, bao gồm những định hướng cần tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và triển khai. Sự phân biệt này có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng: giá trị di sản và sự ghi danh quốc tế tạo nền tảng thuận lợi cho đối ngoại, nhưng chưa đủ để tự thân chứng minh hiệu quả của các hoạt động ngoại giao. Nghiên cứu về ngoại giao di sản cũng nhấn mạnh vai trò của đối thoại, trao đổi tri thức, hợp tác và mối quan hệ giữa các chủ thể trong việc hình thành những kết nối văn hóa xuyên biên giới[2].

Từ vấn đề trên, bài viết tập trung trả lời ba câu hỏi: (1) Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm có những giá trị di sản nào tạo cơ sở cho hoạt động đối ngoại nhân dân của Phật giáo Việt Nam? (2) Những hoạt động bảo tồn, lưu giữ và phát huy di sản nào đã được nguồn tư liệu công khai xác nhận, và các hoạt động đó gợi mở điều gì cho việc phát triển giao lưu quốc tế? (3) Cần có những định hướng và giải pháp nào để tăng cường kết nối học thuật, giới thiệu di sản và hợp tác quốc tế trên cơ sở bảo đảm tính xác thực, tôn trọng giá trị tôn giáo và yêu cầu bảo tồn lâu dài? Trên cơ sở đó, mục tiêu của bài viết là làm rõ mối liên hệ giữa giá trị di sản tư liệu Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm với khả năng phát huy di sản trong hoạt động đối ngoại nhân dân của Phật giáo Việt Nam; nhận diện những kết quả thực tiễn có thể kiểm chứng; đồng thời đề xuất một số định hướng hợp tác phù hợp với điều kiện hiện nay. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và đối chiếu thông tin từ các cơ quan quản lý di sản, tổ chức chuyên môn, nguồn thông tin chính thức và công trình nghiên cứu có liên quan. Do chưa có khảo sát thực địa hoặc phỏng vấn các chủ thể tham gia, nghiên cứu không đi sâu đo lường nhận thức của khách quốc tế, tác động đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài hay hiệu quả ngoại giao dài hạn. Những nội dung chưa có đủ bằng chứng sẽ được trình bày như tiềm năng hoặc đề xuất, không coi là thành tựu đã được xác lập.

2. GIÁ TRỊ DI SẢN CỦA MỘC BẢN CHÙA VĨNH NGHIÊM TRONG GIAO LƯU VÀ ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN

2.1. Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm – dấu ấn của Phật giáo Việt Nam và Thiền phái Trúc Lâm

Chùa Vĩnh Nghiêm (còn được gọi là chùa Đức La) là một trung tâm Phật giáo có vị trí quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đây là không gian thực hành tín ngưỡng và truyền bá giáo lý Phật giáo, đồng thời gắn với hoạt động đào tạo tăng sĩ, giảng kinh, thuyết pháp và lưu truyền các trước tác Phật học. Trong bối cảnh đó, kho Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là một bộ phận quan trọng của di sản tư liệu, phản ánh quá trình bảo tồn, truyền bá và bản địa hóa tư tưởng Phật giáo tại Việt Nam[3]. Theo thông tin của Cục Di sản văn hóa, kho mộc bản hiện còn lưu giữ 3.050 ván khắc, bao gồm kinh, luật, sách Phật giáo và một số trước tác liên quan đến lịch sử, tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm[4]. Các ván khắc được chế tác qua nhiều thời kỳ, phần lớn tập trung vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Nội dung của bộ sưu tập sử dụng chữ Hán và chữ Nôm, qua đó cung cấp nguồn tư liệu có giá trị cho nghiên cứu lịch sử Phật giáo, văn tự, ngôn ngữ, văn học và kỹ thuật khắc in truyền thống của Việt Nam. Một điểm đáng chú ý là Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm không chỉ lưu giữ nội dung kinh sách có nguồn gốc từ truyền thống Phật giáo rộng lớn hơn, mà còn cho thấy cách thức các thế hệ tăng sĩ Việt Nam diễn giải, biên soạn và truyền bá tư tưởng Phật giáo trong môi trường văn hóa bản địa. Việc sử dụng chữ Nôm trong một số trước tác liên quan đến Thiền phái Trúc Lâm cho thấy mối liên hệ giữa tư tưởng Phật giáo với ngôn ngữ và đời sống văn hóa Việt Nam. Vì vậy, bộ mộc bản có thể được tiếp cận đồng thời như một nguồn tư liệu tôn giáo, một thành tố của lịch sử văn hóa dân tộc và một minh chứng cho sự phát triển của truyền thống Phật giáo Việt Nam.

Xét từ góc độ đối ngoại nhân dân, giá trị này tạo cơ sở để giới thiệu một hình thức Phật giáo được hình thành và phát triển trong lịch sử Việt Nam với công chúng quốc tế. Thay vì chỉ giới thiệu chùa chiền như những điểm đến tôn giáo hoặc du lịch, việc giới thiệu mộc bản có thể mở rộng đối thoại sang lịch sử tư tưởng, văn tự, nghệ thuật khắc in, giáo dục đạo đức và vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội. Đây là hướng tiếp cận có khả năng kết nối các cộng đồng Phật giáo, cơ sở nghiên cứu, trường đại học, tổ chức văn hóa và những người quan tâm đến di sản tư liệu. Tuy nhiên, cần phân biệt tiềm năng đối ngoại của di sản với kết quả đối ngoại đã được kiểm chứng. Giá trị lịch sử và văn hóa của mộc bản là cơ sở để đề xuất những hình thức hợp tác; còn việc khẳng định di sản đã góp phần nâng cao hiểu biết quốc tế, tăng cường quan hệ giữa các cộng đồng hay tạo ra kết quả ngoại giao cụ thể cần dựa trên bằng chứng về các chương trình, hoạt động và kết quả thực tế.

2.2. Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được ghi danh vào Danh mục Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Một dấu mốc quan trọng trong quá trình khẳng định giá trị của Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là việc bộ sưu tập được ghi danh vào Danh mục Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương năm 2012. Ngày 16 tháng 5 năm 2012, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được ghi danh trong khuôn khổ Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương[5]. Danh mục của Ủy ban Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương (MOWCAP) cũng ghi nhận bộ mộc bản này, mô tả đây là sưu tập gồm hơn 3.000 ván khắc chứa kinh Phật và những tư liệu liên quan đến Thiền phái Trúc Lâm, trong đó có văn bản chữ Nôm[6]. Sự kiện ghi danh có ý nghĩa ở ít nhất ba phương diện. Thứ nhất, đây là sự ghi nhận đối với giá trị của một bộ sưu tập tư liệu Phật giáo Việt Nam trong phạm vi khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Thứ hai, việc ghi danh góp phần đưa mộc bản vào mạng lưới di sản tư liệu có khả năng được giới thiệu, nghiên cứu và trao đổi trong môi trường quốc tế. Thứ ba, đây là cơ sở thuận lợi để các cơ quan quản lý di sản, cơ sở Phật giáo và tổ chức nghiên cứu xây dựng những hoạt động truyền thông, giáo dục và hợp tác học thuật phù hợp với đặc điểm của di sản. Từ góc độ đối ngoại nhân dân, việc ghi danh có thể được xem là một nguồn lực biểu tượng và một điểm tựa để phát triển hợp tác, chứ không phải bằng chứng tự thân cho thấy các hoạt động ngoại giao văn hóa đã đạt hiệu quả. Giá trị của sự ghi danh chỉ có thể được chuyển hóa thành kết quả thực tiễn khi có những hoạt động tiếp nối như trao đổi học thuật, giới thiệu tư liệu bằng nhiều ngôn ngữ, chương trình giáo dục di sản, triển lãm có thuyết minh khoa học và cơ chế phối hợp giữa các tổ chức có liên quan.

2.3. Giá trị liên ngành và khả năng kết nối cộng đồng quốc tế

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm có thể trở thành chủ đề đối thoại liên ngành bởi nội dung và hình thức vật chất của bộ sưu tập chứa đựng nhiều lớp giá trị. Đối với nghiên cứu Phật học, mộc bản cung cấp tư liệu để tìm hiểu kinh điển, giới luật, trước tác và lịch sử truyền bá tư tưởng Phật giáo. Đối với nghiên cứu Hán Nôm và ngôn ngữ học, đây là nguồn tư liệu phục vụ khảo cứu văn tự, cách sử dụng ngôn ngữ và lịch sử văn bản. Đối với lịch sử mỹ thuật và kỹ thuật thủ công, các ván khắc cho phép tìm hiểu kỹ thuật tạo bản, bố cục trang sách và nghệ thuật chạm khắc gỗ truyền thống. Các lớp giá trị này mở ra khả năng kết nối với nhiều nhóm đối tác quốc tế. Các viện nghiên cứu và trường đại học có thể quan tâm đến việc khảo cứu văn bản, lịch sử Phật giáo và di sản chữ Nôm; các bảo tàng, thư viện và cơ quan lưu trữ có thể trao đổi kinh nghiệm về bảo quản, số hóa và giới thiệu di sản tư liệu; các tổ chức Phật giáo có thể phối hợp xây dựng hoạt động giáo dục, tọa đàm hoặc giao lưu văn hóa; trong khi công chúng rộng rãi có thể tiếp cận di sản thông qua triển lãm, ấn phẩm phổ biến kiến thức và các chương trình truyền thông.

Điểm quan trọng là không nên giới hạn việc giới thiệu mộc bản trong phạm vi tôn giáo. Nếu được tổ chức theo hướng liên ngành, di sản có thể trở thành điểm gặp gỡ giữa nghiên cứu Phật học, lịch sử, ngôn ngữ, bảo tồn, giáo dục và giao lưu văn hóa. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần đối ngoại nhân dân bởi nó tạo điều kiện để các tổ chức xã hội, cơ sở tôn giáo, giới nghiên cứu và cộng đồng cùng tham gia vào những hoạt động giao lưu dựa trên tri thức và sự hiểu biết lẫn nhau. Mặt khác, khả năng kết nối quốc tế không nên được hiểu đơn giản là mở rộng số lượng hoạt động quảng bá. Một chương trình có ý nghĩa cần bảo đảm tính chính xác của nội dung, tôn trọng bối cảnh tôn giáo, có sự tham gia của những chủ thể am hiểu di sản và tạo điều kiện cho đối tác trao đổi thực chất. Với một bộ sưu tập kinh sách Phật giáo, việc giới thiệu ra bên ngoài còn cần lưu ý sự khác biệt giữa tài liệu nghiên cứu, nội dung phổ biến cho công chúng và những yếu tố gắn với thực hành tôn giáo. Đây là cơ sở để bảo đảm rằng hoạt động giao lưu không làm giản lược di sản thành một sản phẩm truyền thông đơn thuần.

3. THỰC TIỄN BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ MỘC BẢN CHÙA VĨNH NGHIÊM VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN

3.1. Bảo tồn di sản tư liệu là điều kiện nền tảng cho hợp tác quốc tế

Đối với di sản tư liệu, việc bảo tồn cần đảm bảo duy trì tồn tại vật chất của hiện vật, đồng thời đảm bảo khả năng tiếp cận, nghiên cứu và truyền đạt thông tin cho các thế hệ sau. Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm có đặc điểm là các văn bản được khắc trên gỗ, do đó việc lưu giữ đòi hỏi sự quan tâm đến tình trạng vật liệu, môi trường bảo quản, cách sắp xếp, thao tác khi tiếp cận và khả năng nhận diện nội dung của từng ván khắc. Đồng thời, giá trị của bộ sưu tập phụ thuộc vào việc xác định, giải đọc và diễn giải chính xác văn bản, chứ không đơn giản dừng lại ở số lượng hiện vật còn tồn tại. Công tác bảo tồn và phát huy di sản vì vậy cần đi cùng với việc chuẩn hóa hồ sơ khoa học, minh bạch các tiêu chí kiểm kê và ghi rõ cơ sở của các thông tin được công bố. Đây cũng là yêu cầu quan trọng khi đưa di sản vào các chương trình giao lưu quốc tế. Một hồ sơ giới thiệu bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài cần thống nhất về tên gọi, niên đại, số lượng hiện vật, nội dung văn bản, tình trạng bảo quản và lịch sử ghi danh. Những thông tin chưa được xác minh đầy đủ cần được trình bày thận trọng, thay vì sử dụng các tuyên bố tuyệt đối hoặc những mô tả có tính quảng bá nhưng thiếu căn cứ. Độ tin cậy của thông tin chính là điều kiện để đối tác quốc tế sử dụng di sản như một nguồn tư liệu nghiên cứu và giáo dục. Từ thực tiễn đó, có thể xác định ba nhiệm vụ liên quan mật thiết với nhau đó là bảo quản vật thể; nghiên cứu và hoàn thiện hồ sơ tư liệu; phát triển phương thức tiếp cận phù hợp cho các nhóm công chúng khác nhau. Ba nhiệm vụ này tạo thành nền tảng để hình thành các chương trình hợp tác quốc tế có chiều sâu, thay vì chỉ tổ chức những hoạt động giới thiệu mang tính thời điểm.

3.2. Phát huy giá trị di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm

Việc ghi danh năm 2012 là một dấu mốc quan trọng trong quá trình khẳng định giá trị của Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. Tuy nhiên, để đánh giá thực tiễn phát huy di sản trong đối ngoại nhân dân, cần tách biệt ba loại bằng chứng: sự công nhận về mặt danh mục; hoạt động bảo tồn và nghiên cứu trong nước; và hoạt động giao lưu, hợp tác có sự tham gia của đối tác quốc tế. Đối với loại bằng chứng thứ nhất, thông tin từ MOWCAP và Cục Di sản văn hóa xác nhận việc bộ mộc bản được ghi danh vào danh mục khu vực châu Á – Thái Bình Dương năm 2012. Đây là dữ kiện có thể sử dụng để khẳng định vị thế của bộ sưu tập trong hệ thống di sản tư liệu khu vực. Đối với loại bằng chứng thứ hai, các tư liệu chuyên ngành đã công bố cho thấy bộ mộc bản là đối tượng của hoạt động nghiên cứu, kiểm kê và thảo luận khoa học về giá trị lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và kỹ thuật khắc in. Những công trình này góp phần xây dựng cơ sở tri thức phục vụ bảo tồn và phát huy di sản. Tuy nhiên, khi trình bày các hoạt động cụ thể như xây dựng không gian trưng bày, số hóa hiện vật, phục dựng quy trình khắc in hay tổ chức triển lãm, bài viết cần dẫn đúng tài liệu xác nhận từng hoạt động, thời gian, đơn vị thực hiện và phạm vi kết quả. Không nên suy từ việc có công trình nghiên cứu sang kết luận rằng mọi hoạt động bảo tồn hoặc giới thiệu quốc tế đều đã được triển khai. Đối với loại bằng chứng thứ ba, cần có hồ sơ chương trình, thông tin từ đơn vị tổ chức, danh sách đối tác hoặc báo cáo kết quả để xác định các hoạt động nào thực sự có yếu tố hợp tác quốc tế. Trong phạm vi những nguồn đang được sử dụng ở đây, có thể khẳng định việc ghi danh và giá trị tư liệu của mộc bản; nhưng chưa đủ căn cứ để lượng hóa mức độ hiện diện của di sản trong các chương trình đối ngoại nhân dân, số lượng đối tác quốc tế đã tham gia, hay tác động của các hoạt động đó đối với quan hệ giữa các cộng đồng. Cách phân biệt này không làm giảm ý nghĩa của di sản. Ngược lại, nó giúp bài viết có cơ sở để chuyển từ việc mô tả giá trị sang phân tích những điều kiện cần thiết để phát huy giá trị ấy. Thay vì khẳng định chung rằng Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã tạo ra hiệu quả ngoại giao văn hóa, có thể lập luận thận trọng hơn: di sản đã có nền tảng giá trị và sự công nhận ở cấp khu vực; nhiệm vụ tiếp theo là xây dựng các chương trình hợp tác có mục tiêu, có đối tác, có sản phẩm đầu ra và có tiêu chí đánh giá rõ ràng.

3.3. Vai trò của các chủ thể trong phát huy di sản thông qua đối ngoại nhân dân

Đối ngoại nhân dân có đặc trưng là sự tham gia của các tổ chức xã hội, đoàn thể, cơ sở tôn giáo, giới trí thức và các cộng đồng, bên cạnh hoạt động đối ngoại của các cơ quan nhà nước. Trong trường hợp Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, việc phát huy giá trị di sản theo hướng này đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều chủ thể, mỗi chủ thể có chức năng và trách nhiệm khác nhau. Trước hết, cơ quan quản lý văn hóa và di sản giữ vai trò định hướng chuyên môn, quản lý hồ sơ, bảo đảm việc giới thiệu di sản tuân thủ các yêu cầu về bảo tồn và tính xác thực. Các nhà nghiên cứu Phật học, Hán Nôm, lịch sử và bảo tồn cung cấp tri thức chuyên môn, tham gia thẩm định nội dung, giải thích văn bản và xây dựng các sản phẩm giới thiệu có độ tin cậy. Nhà chùa và cộng đồng Phật tử có vai trò duy trì mối liên hệ giữa mộc bản với không gian tôn giáo, truyền thống thực hành và ý nghĩa tinh thần của di sản. Các cơ sở giáo dục, bảo tàng, thư viện và tổ chức giao lưu văn hóa có thể hỗ trợ thiết kế chương trình giáo dục, triển lãm và trao đổi học thuật.

Trong quan hệ với đối tác quốc tế, cần xác định rõ đơn vị đầu mối và cơ chế phối hợp. Nếu tổ chức một tọa đàm quốc tế về mộc bản, chẳng hạn, đơn vị chủ trì cần làm rõ chủ đề, tiêu chuẩn lựa chọn diễn giả, ngôn ngữ làm việc, quyền sử dụng hình ảnh và bản chụp tư liệu, cũng như trách nhiệm lưu trữ và công bố kết quả. Nếu xây dựng một triển lãm số, cần xác định nguồn dữ liệu, quy trình kiểm tra bản dịch, điều kiện tiếp cận hình ảnh và phương thức ghi nhận đóng góp của các đơn vị tham gia.

Một nguyên tắc xuyên suốt là không tách rời vai trò của cộng đồng nắm giữ và thực hành di sản khỏi quá trình giới thiệu ra quốc tế. Hoạt động hợp tác chỉ thực sự có ý nghĩa khi việc phổ biến tri thức đi đôi với tôn trọng bối cảnh văn hóa và tôn giáo, đồng thời không làm tổn hại đến hiện vật hoặc biến các nội dung thiêng thành đối tượng khai thác thiếu cân nhắc. Với Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, sự phối hợp giữa tri thức chuyên môn, trách nhiệm bảo tồn và sự tham gia của cộng đồng là điều kiện quan trọng để xây dựng hình thức đối ngoại nhân dân bền vững.

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm trong đối ngoại nhân dân
Đại biểu tham dự Lễ tổng kết công tác Phật sự nhiệm kỳ IX và Hội thảo khoa học Phật giáo Việt Nam tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân: Thành tựu và tầm nhìn (24/10/2026).

4. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY MỘC BẢN CHÙA VĨNH NGHIÊM TRONG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

4.1. Xây dựng hồ sơ giới thiệu di sản đa ngôn ngữ, thống nhất và có kiểm chứng

Định hướng đầu tiên là xây dựng một bộ hồ sơ giới thiệu Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm bằng tiếng Việt và một số ngôn ngữ phù hợp với các nhóm đối tác ưu tiên. Hồ sơ cần bao gồm lịch sử hình thành bộ sưu tập, nội dung chính, đặc điểm văn bản, giá trị đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam, kỹ thuật khắc in, tình trạng bảo tồn và thông tin ghi danh năm 2012. Để tránh sai lệch trong quá trình giới thiệu, hồ sơ nên được xây dựng trên cơ sở phối hợp giữa cơ quan quản lý di sản, nhà nghiên cứu và đại diện cơ sở Phật giáo có liên quan. Các thuật ngữ Phật học, Hán Nôm và di sản tư liệu cần được thống nhất; các bản dịch nên được thẩm định trước khi công bố. Đối với những nội dung chưa có sự thống nhất trong nghiên cứu, hồ sơ cần nêu rõ giới hạn của dữ liệu thay vì lựa chọn một cách diễn giải duy nhất mà không giải thích căn cứ. Sản phẩm có thể gồm một hồ sơ giới thiệu ngắn phục vụ công chúng, một hồ sơ khoa học dành cho nhà nghiên cứu, một bộ ảnh có chú thích và một danh mục tài liệu tham khảo có đường dẫn. Các sản phẩm này có thể được sử dụng tại hội thảo, triển lãm, hoạt động giao lưu Phật giáo và chương trình giáo dục di sản. Việc xây dựng hồ sơ chuẩn hóa cũng giúp giảm chi phí chuẩn bị cho những hoạt động hợp tác sau này, đồng thời hạn chế tình trạng thông tin không nhất quán giữa các đơn vị.

4.2. Phát triển hợp tác học thuật và trao đổi chuyên môn

Hợp tác học thuật là hướng phù hợp để phát huy chiều sâu tri thức của Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. Thay vì bắt đầu bằng những chương trình quảng bá quy mô lớn, có thể ưu tiên các hoạt động có phạm vi rõ ràng như tọa đàm chuyên đề, hội thảo về di sản tư liệu Phật giáo, trao đổi phương pháp nghiên cứu Hán Nôm, chia sẻ kinh nghiệm bảo quản mộc bản hoặc hợp tác xây dựng thư mục tư liệu. Đối tác tiềm năng có thể bao gồm các trường đại học, viện nghiên cứu, thư viện, bảo tàng và tổ chức nghiên cứu di sản tại những quốc gia có truyền thống nghiên cứu Phật giáo hoặc di sản văn bản cổ. Tuy nhiên, việc lựa chọn đối tác cụ thể cần dựa trên năng lực chuyên môn, mức độ tương thích của chương trình và khả năng triển khai thực tế, không nên chỉ dựa vào danh tiếng của tổ chức.

Trong giai đoạn đầu, một chương trình hợp tác có thể tập trung vào việc xây dựng danh mục các chủ đề nghiên cứu ưu tiên, trao đổi chuyên gia và tổ chức một hội thảo nhỏ có kỷ yếu hoặc báo cáo tổng kết. Khi đã hình thành được cơ chế phối hợp và quy trình chia sẻ tư liệu, các bên có thể xem xét những dự án dài hạn hơn như biên mục chuyên sâu, xây dựng bộ thuật ngữ song ngữ hoặc nghiên cứu so sánh giữa mộc bản Phật giáo Việt Nam với các bộ sưu tập tư liệu Phật giáo trong khu vực. Cách tiếp cận từng bước giúp bảo đảm tính khả thi và tránh đưa ra cam kết vượt quá nguồn lực hiện có. Đồng thời, nó tạo cơ hội để hoạt động đối ngoại nhân dân dựa trên sự trao đổi tri thức bình đẳng, trong đó các nhà nghiên cứu Việt Nam không chỉ giới thiệu một di sản quốc gia mà còn đóng góp vào những câu hỏi rộng hơn về lịch sử Phật giáo, lịch sử văn bản và sự lưu chuyển tri thức trong khu vực.

4.3. Ứng dụng công nghệ số gắn với yêu cầu bảo tồn và quyền tiếp cận

Công nghệ số có thể hỗ trợ giới thiệu Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đến những nhóm công chúng không có điều kiện tiếp cận trực tiếp hiện vật. Một số hướng có thể xem xét gồm xây dựng danh mục số, chụp ảnh độ phân giải phù hợp, phát triển bản giới thiệu tương tác, thiết kế triển lãm trực tuyến và cung cấp nội dung thuyết minh đa ngôn ngữ. Tuy nhiên, số hóa không nên được xem là mục tiêu tự thân. Trước khi triển khai, cần xác định ưu tiên bảo tồn, tiêu chuẩn kỹ thuật, cách đặt mã định danh cho từng đơn vị tư liệu, quy trình kiểm tra chất lượng ảnh và cơ chế quản lý dữ liệu. Đối với các văn bản Hán Nôm, công nghệ nhận dạng ký tự có thể được nghiên cứu như một công cụ hỗ trợ, nhưng kết quả cần được chuyên gia kiểm tra bởi đặc điểm chữ khắc, tình trạng vật liệu và tính đa dạng của văn bản có thể gây ra sai sót. Không nên coi bản nhận dạng tự động là văn bản đã được hiệu đính học thuật.

Việc đưa hình ảnh và nội dung mộc bản lên môi trường số cũng cần có quy định về quyền sử dụng, ghi nguồn, mục đích khai thác và điều kiện tiếp cận. Đặc biệt, cần phân biệt quyền tiếp cận thông tin phục vụ nghiên cứu với quyền sử dụng hình ảnh cho mục đích thương mại hoặc truyền thông. Các yếu tố gắn với thực hành tôn giáo cần được giới thiệu phù hợp, có tham vấn những người am hiểu di sản và tôn trọng bối cảnh sử dụng. Nếu được chuẩn bị cẩn trọng, các sản phẩm số có thể trở thành công cụ hỗ trợ hợp tác học thuật và giao lưu nhân dân, giúp đối tác quốc tế tiếp cận thông tin đáng tin cậy mà không nhất thiết phải tiếp xúc trực tiếp với hiện vật. Đây là hướng đề xuất cho giai đoạn tiếp theo; chưa nên trình bày nó như một hệ thống số hóa hoàn chỉnh nếu chưa có tài liệu xác nhận việc triển khai.

4.4. Kết nối đối ngoại nhân dân với giáo dục di sản và giao lưu cộng đồng

Bên cạnh nghiên cứu chuyên sâu, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm có thể được phát huy thông qua các hoạt động giáo dục di sản dành cho tăng ni, Phật tử, học sinh, sinh viên và công chúng quốc tế. Các hình thức phù hợp có thể gồm chương trình giới thiệu lịch sử mộc bản, thực hành tìm hiểu cấu trúc một trang sách cổ, hoạt động diễn giải về chữ Hán và chữ Nôm, hoặc tọa đàm về vai trò của di sản tư liệu trong việc truyền lưu tri thức Phật giáo. Trong môi trường giao lưu quốc tế, chương trình nên được thiết kế theo hướng đối thoại hai chiều. Người tham gia được tiếp nhận thông tin về di sản Việt Nam, có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm bảo tồn, cách tiếp cận di sản Phật giáo và quan điểm về mối quan hệ giữa tôn giáo với đời sống xã hội. Những trao đổi như vậy có thể tạo nền tảng cho sự hiểu biết lẫn nhau, đồng thời giúp chủ thể Việt Nam tiếp nhận các kinh nghiệm phù hợp để phục vụ công tác bảo tồn trong nước.

Việc kết nối với các cộng đồng Phật giáo ở nước ngoài cũng có thể được xem xét, nhưng cần xác định rõ mục tiêu, nội dung và cơ chế phối hợp. Hoạt động không nên chỉ dừng ở nghi lễ hoặc giới thiệu hình ảnh, có thể mở rộng sang trao đổi về lịch sử Thiền phái Trúc Lâm, văn hóa đọc kinh, bảo tồn văn bản Phật giáo và vai trò của di sản trong giáo dục đạo đức. Các chương trình này cần được thiết kế phù hợp với sự khác biệt về ngôn ngữ, truyền thống tôn giáo và trình độ tiếp cận của từng nhóm công chúng.

Để đánh giá hiệu quả, đơn vị tổ chức có thể sử dụng những chỉ báo đơn giản như số chương trình được thực hiện, số tổ chức đối tác tham gia, số tài liệu đa ngôn ngữ được công bố, mức độ hài lòng của người tham dự và số hoạt động tiếp nối được thống nhất sau chương trình. Những chỉ báo này không thay thế đánh giá định tính, nhưng có thể giúp phân biệt hoạt động mang tính sự kiện với quan hệ hợp tác được duy trì theo thời gian.

4.5. Xây dựng cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả

Để các định hướng trên có thể triển khai, cần có cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý di sản, cơ sở Phật giáo, giới nghiên cứu và tổ chức đối tác. Trước hết, cần xác định một đầu mối điều phối hồ sơ và hoạt động giới thiệu; tiếp theo là thống nhất quy trình thẩm định nội dung, quản lý hình ảnh, sử dụng tư liệu và đánh giá kết quả. Với các chương trình có sự tham gia của đối tác nước ngoài, cần xác định rõ trách nhiệm của từng bên, nguồn lực thực hiện và cách thức công bố sản phẩm sau hợp tác. Có thể triển khai theo ba bước. Bước thứ nhất, rà soát và chuẩn hóa thông tin, xây dựng hồ sơ giới thiệu song ngữ và xác định các chủ đề ưu tiên. Bước thứ hai, thí điểm một số hoạt động có quy mô vừa phải như tọa đàm chuyên đề, chương trình giáo dục di sản hoặc giới thiệu tư liệu trực tuyến. Bước thứ ba, trên cơ sở đánh giá kết quả thí điểm, lựa chọn đối tác phù hợp để phát triển chương trình hợp tác dài hạn.

Cơ chế đánh giá cần xem xét đồng thời ba nhóm tiêu chí: bảo tồn và độ tin cậy khoa học; chất lượng giao lưu và mức độ tham gia của các chủ thể; khả năng duy trì hợp tác sau khi chương trình kết thúc. Một hoạt động thu hút nhiều người tham dự nhưng không bảo đảm độ chính xác của thông tin hoặc gây rủi ro cho hiện vật không thể được xem là thành công toàn diện. Tương tự, số lượng sự kiện không phản ánh đầy đủ chất lượng đối ngoại nếu không hình thành được trao đổi tri thức hoặc quan hệ hợp tác tiếp nối.

Với cách tiếp cận này, đối ngoại nhân dân dựa trên Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm có thể được phát triển như một quá trình dài hạn, trong đó bảo tồn là điều kiện nền tảng, nghiên cứu là cơ sở tạo lập tri thức, còn giao lưu và hợp tác là phương thức đưa giá trị di sản đến với các cộng đồng rộng hơn.

KẾT LUẬN

Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là một di sản tư liệu có giá trị đặc biệt, phản ánh sự phát triển của Phật giáo Việt Nam, truyền thống tư tưởng và thực hành Phật giáo Trúc Lâm, cũng như trình độ khắc in, lưu truyền và bảo tồn tri thức của người Việt trong lịch sử. Trong bối cảnh tăng cường giao lưu nhân dân và hợp tác văn hóa quốc tế, mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm có thể trở thành một nguồn lực văn hóa quan trọng của đối ngoại nhân dân Phật giáo Việt Nam. Thông qua việc giới thiệu di sản, trao đổi học thuật, giáo dục di sản và kết nối các cộng đồng Phật giáo, di sản có khả năng mở rộng không gian đối thoại giữa Việt Nam với các quốc gia và tổ chức quốc tế, góp phần làm rõ những giá trị nhân văn, tinh thần hòa hợp và truyền thống nhập thế của Phật giáo Việt Nam. Điểm cốt yếu là cần chuyển từ tư duy giới thiệu một di sản có giá trị sang xây dựng những hoạt động giao lưu có nội dung, đối tác, mục tiêu và kết quả cụ thể. Theo đó, đối ngoại nhân dân không chỉ dừng lại ở quảng bá hình ảnh mà còn cần tạo lập sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy trao đổi tri thức và hình thành những mối quan hệ hợp tác có khả năng duy trì lâu dài. Để hiện thực hóa tiềm năng đó, việc phát huy mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm trong đối ngoại nhân dân cần được triển khai theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và phát huy, giữa nghiên cứu học thuật và truyền thông di sản, giữa vai trò chủ động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam với sự tham gia của cơ quan quản lý văn hóa, cơ sở nghiên cứu và cộng đồng địa phương.

Từ trường hợp mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, có thể thấy rằng di sản Phật giáo không chỉ là đối tượng cần được bảo tồn mà còn có thể trở thành cầu nối văn hóa trong quan hệ giữa các cộng đồng và quốc gia. Tuy nhiên, khả năng thực hiện vai trò đó phụ thuộc vào cách thức tổ chức, chất lượng tri thức được chia sẻ và mức độ hài hòa giữa mục tiêu đối ngoại với yêu cầu bảo vệ di sản. Vì vậy, phát huy mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm trong đối ngoại nhân dân của Phật giáo Việt Nam cần được xác định là một quá trình lâu dài, trong đó bảo tồn là nền tảng, nghiên cứu là cơ sở, giao lưu là phương thức và sự hiểu biết lẫn nhau là mục tiêu hướng tới. Trên cơ sở ấy, di sản có thể đóng góp thiết thực hơn vào việc giới thiệu bản sắc Phật giáo Việt Nam, thúc đẩy hợp tác văn hóa quốc tế và tăng cường kết nối nhân dân trên tinh thần tôn trọng khác biệt, chia sẻ giá trị và cùng gìn giữ di sản chung của nhân loại.

Chú thích

  1. UNESSCO. (2012). Woodblocks at Vinh Nghiem Pagoda, Bac Giang Province. ↩
  2. Lähdesmäki, T., & Čeginskas, V. L. A. (2022). Conceptualisation of heritage diplomacy in scholarship. International Journal of Heritage Studies, 28(5), 635–650. https://doi.org/10.1080/13527258.2022.2054846. ↩
  3. Cục Di sản văn hóa. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật chùa Vĩnh Nghiêm. ↩
  4. Cục Di sản văn hóa. Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. ↩
  5. Cục Di sản văn hóa. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật chùa Vĩnh Nghiêm. ↩
  6. Memory of the World Committee for Asia and the Pacific (MOWCAP). (2012). Woodblocks at Vinh Nghiem Pagoda, Bac Giang Province. ↩

Tài liệu tham khảo

  • Bùi Hữu Dược. (2012). Vị trí ngôi chùa Vĩnh Nghiêm trong Phật giáo Việt Nam. Tạp chí Công tác Tôn giáo, (9), 40–44.
  • Chu Quang Trứ. (2001). Mỹ thuật Lý Trần – Mỹ thuật Phật giáo. Nhà xuất bản Mỹ thuật.
  • Cục Di sản văn hóa. Di sản tư liệu. https://dsvh.gov.vn/di-san-tu-lieu-1761
  • Cục Di sản văn hóa. Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật chùa Vĩnh Nghiêm. https://dsvh.gov.vn/di-tich-lich-su-va-kien-truc-nghe-thuat-chua-vinh-nghiem-1312
  • Cục Di sản văn hóa. Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. https://dsvh.gov.vn/moc-ban-chua-vinh-nghiem
  • Dương Ngô Ninh. (2012). Trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm và những ảnh hưởng đối với vùng đất Yên Dũng. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, (2), 35–41.
  • Đinh Hồng Hải. (2020). Di sản văn hóa trong thang bậc giá trị toàn cầu qua góc nhìn của Michael Herzfeld. Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, 6(4), 439–449.
  • Lê Thị Hồng Nhung. (2021). Chùa Vĩnh Nghiêm: Lịch sử hình thành, quá trình phát triển và định hướng khai thác du lịch tâm linh. Tạp chí Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, (593), 69–71.
  • Phạm Thị Khánh Ngân. (2021). Di sản tư liệu ở Việt Nam: Vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị (trường hợp các di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới được UNESCO ghi danh) [Luận án tiến sĩ, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam].
  • Lý Viết Trường. (2016). Tác động của yếu tố kinh tế đến việc bảo tồn và phát huy giá trị mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (390), 18–20.
  • Lương Hồng Quang, Bùi Thị Kim Phương. (2017). Mô hình quản lý di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà tỉnh Bắc Giang. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (396), 27–31.
  • Lương Hồng Quang (Chủ nhiệm). (2017). Bảo tồn, phát huy giá trị di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà, tỉnh Bắc Giang [Đề tài khoa học cấp quốc gia]. Bộ Khoa học và Công nghệ.
  • Minh Lực. (2003). Những tư liệu hiện vật ở chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2002 (tr. 526–529).
  • Memory of the World Committee for Asia and the Pacific. (2014, November 5). Woodblocks at Vinh Nghiem Pagoda, Bac Giang Province (2012). https://www.mowcapunesco.org/register/woodblocks-at-vinh-nghiem-pagoda-bac-giang-province/
  • Memory of the World Committee for Asia and the Pacific. (n.d.). MOWCAP Regional Register. https://www.mowcapunesco.org/core-activities/regional-register/
  • Ngô Văn Trụ (Chủ biên). (2018). Chùa Vĩnh Nghiêm. Nhà xuất bản Lao động.
  • Nguyễn Đăng Vận. (2001). Bước đầu tìm hiểu kho ván in ở chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang). Trong Thông báo Hán Nôm học năm 2000 (tr. 558–564).
  • Nguyễn Hữu Sơn. (2019). Vị thế chùa Vĩnh Nghiêm thời kỳ Tam tổ Trúc Lâm (nửa đầu thế kỷ XIV). Tạp chí Xưa và Nay, (505), 49–52.
  • Nguyễn Quốc Tuấn (Chủ biên). (2017). Giá trị di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà tỉnh Bắc Giang (6 tập). Nhà xuất bản Tôn giáo.
  • Nguyễn Quốc Tuấn (Chủ biên). (2017). Giá trị lịch sử và văn hóa chùa Vĩnh Nghiêm. Nhà xuất bản Tôn giáo.
  • Nguyễn Quốc Tuấn (Chủ biên). (2017). Giá trị Phật giáo chùa Vĩnh Nghiêm. Nhà xuất bản Tôn giáo.
  • Nguyễn Quốc Tuấn (Chủ biên). (2017). Lược sử di sản và mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. Nhà xuất bản Tôn giáo.
  • Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Quế Hương. (2017). Phác thảo giá trị di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà tỉnh Bắc Giang. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, (1–2), 55–68.
  • Nguyễn Thị Bích Ngọc (Chủ nhiệm). (2017). Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ để bảo quản di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà tỉnh Bắc Giang [Đề tài khoa học cấp quốc gia]. Bộ Khoa học và Công nghệ.
  • Nguyễn Thị Duyên. (2016). Giá trị văn hóa chùa Vĩnh Nghiêm trong phát triển xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang [Luận văn thạc sĩ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam].
  • Nguyễn Thị Thùy Liên. (2016). Chùa Vĩnh Nghiêm – Ngôi cổ tự với kiến trúc độc đáo và kho mộc bản có giá trị. Tạp chí Công tác Tôn giáo, (8), 36–39.
  • Nguyễn Văn Phong. (2005). Kho “Mộc thư” chùa Vĩnh Nghiêm với giá trị văn hóa. Tạp chí Hán Nôm, (5), 50–54.
  • Nguyễn Văn Quý. (2016). Thực trạng mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm ở Bắc Giang và giá trị của nó. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, (4), 23–35.
  • Nguyễn Xuân Cần, Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Hữu Tự. (2004). Chốn tổ Vĩnh Nghiêm. Sở Văn hóa – Thông tin Bắc Giang.
  • Nguyễn Thế Chính. (2016). Một số giá trị lịch sử, Phật giáo và văn hóa của mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà tỉnh Bắc Giang. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, (4), 36–44.
  • Nguyễn Ngọc Mai. (2017). Giá trị văn hóa của mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà ở Bắc Giang. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, (1–2), 69–82.
  • Phạm Thị Huệ (Chủ biên). (2016). Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm – Đề mục tổng quan. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.
  • Phạm Thị Huệ (Chủ biên). (2020). Thiền tông bản hạnh: Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.
  • Trần Văn Hiếu. (2016). Mô hình quản lý di sản chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (389), 16–17.
  • Trần Văn Lạng, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Thị Nga. (2012). Chùa Vĩnh Nghiêm với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nhà xuất bản Thông tấn.
  • Trần Trọng Dương. (2015). Về di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang). Tạp chí Di sản văn hóa, (4), 23-27. https://dsvh.gov.vn/Upload/files/5306_Ve%20di%20san%20Moc%20ban%20chua%20Vinh%20Nghiem.pdf
  • Trịnh Cao Tưởng. (2007). Kiến trúc cổ Việt Nam từ cái nhìn khảo cổ học. Nhà xuất bản Xây dựng.
  • Trịnh Khắc Mạnh. (2017). Di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà tỉnh Bắc Giang trong đời sống văn hóa Việt Nam. Tạp chí Hán Nôm, (2), 21–29.
  • Tỳ kheo ni Hạnh Tâm. (2011). Tìm hiểu giá trị chữ Nôm được bảo tồn trong tư liệu mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm tỉnh Bắc Giang. Trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam (tr. 502–525).
  • Thích Thanh Hải. (2023). Sơ lược về văn bia Phật giáo Trúc Lâm Tây Yên Tử. Tạp chí Hán Nôm, (4), 84–89.
  • Thân Quang Huy. (2011). Chùa Vĩnh Nghiêm: Trung tâm Phật giáo Trúc Lâm thời Trần. Tạp chí Xưa và Nay, (377), 33–34.
  • Vũ Đức Nghiệu. (2016). Nhận diện giá trị của mộc bản chùa Bổ Đà và chùa Vĩnh Nghiêm. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (390), 13–17.
  • Vũ Đức Nghiệu (Chủ biên). (2020). Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà: Những định hướng bảo tồn và phát huy giá trị của di sản. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Vũ Đức Nghiệu (Chủ nhiệm). (2016). Định hướng bảo tồn, phát huy giá trị di sản mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà tỉnh Bắc Giang [Đề tài khoa học cấp quốc gia]. Bộ Khoa học và Công nghệ.
  • Nguyễn Văn Phong. (2005). Kho “Mộc thư” chùa Vĩnh Nghiêm với giá trị văn hóa. Tạp chí Hán Nôm, (5), 50–54.
  • Thủ tướng Chính phủ. (2021, ngày 30 tháng 11). Quyết định số 2013/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược Ngoại giao văn hóa đến năm 2030.
  • Thích Thanh Vịnh (Chủ biên). (2023). Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm – Viên Liễu Phàm tứ huấn. Nhà xuất bản Thế giới.
  • UNESCO. (1992). Memory of the World Programme: General guidelines to safeguard documentary heritage. UNESCO.